Không khó để thấy rằng thói quen đa số của người Việt trong việc lựa chọn loại hình thư giãn là hát.
Hát
là một hoạt động mang tính văn hóa lành mạnh, không có gì để bàn cãi hay lên
án, nó cho thấy tâm hồn người Việt vô tư, trong sáng, và yêu cái nghệ thuật,
cái đẹp…
Hát
ở bất cứ đâu, từ nhà hàng, đám cưới, đám tân gia, đầy tháng, thôi nôi, khai
trương, khai giảng, bế mạc, có khi chúng ta còn thấy trong cả đám tang, nói
chung có tiệc tùng là có hát…hát bất kể đâu từ phòng karaoke đến sàn đàn ca tài
tử, từ anh bán kẹo ngoài đường đến cả những sân khấu trong các tụ điểm bar, sàn
nhảy…
Sự
thích hát này còn diễn ra trên truyền thông, với hàng loạt các Games show
truyền hình cho mọi đối tượng từ người lớn đến trẻ con, có những chương trình
thậm chí phát vào giờ vàng của những kênh truyền hình quốc gia, chúng ta lướt
qua tại thời điểm hiện tại để thấy mức độ phủ sống của các chương trình này như
thế nào, từ The voice Kids, đến Gương Mặt Thân Quen Nhí, bên cạnh đó là Gương
Mặt Thân Quen dành cho người lớn, rồi Solo cùng Bolero, rồi Song Ca Cùng Thần
Tượng, rồi ca sĩ Giấu Mặt, Chuông Vàng Vọng Cổ…có thể liệt kê thêm nữa vào thời
điểm về sau, chưa kể hằng năm ở các đài truyền hình tỉnh cũng có tiếng hát Phát
thanh Truyền hình dành cho cổ nhạc và tân nhạc,…
Đã
có một sự lạm phát các chương trình ca nhạc, hoạt động ca nhạc; nhưng tôi không
muốn phân tích sâu vào các chương trình tổ chức ấy, vì nó là lợi ích của những
nhóm, của những nhà sản xuất, mà với họ lợi ích tài chính là mục tiêu hàng đầu
chứ không phải vì mục tiêu định hướng văn hóa, lối sống; vì đó không phải là
trách nhiệm của họ. Vì có cầu thì họ có cung, thế thôi!
Vấn
đề đặt ra là tâm lý người Việt. Người Việt thích hát – đó là điều không sai,
nhưng sự đam mê đó đang khập khiểng trong tổng thể những cái nhu cầu chung nhất
để phát triển một con người và xã hội toàn diện.
Một
xã hội phát triển cần có nhiều lĩnh lực, không chỉ có văn hóa nghệ thuật mà cần
có những đam mê và hoạt động về khoa học, kinh tế, chính trị…sẽ có ý kiến cho
rằng: họ hát không phải vì họ là ca sĩ, họ vẫn là những kỹ sư, vẫn là những bác
sĩ, là nhà giáo…nhưng xin thưa, thành phần ấy ít thôi, vì những công việc đó họ
không có nhiều thời gian cho những việc bên ngoài, thành phần còn lại là nhàn
cư rảnh rỗi.
Trong
một buổi chiều cuối tuần rảnh rang, tôi lên chiếc xe 2 bánh lượn một vòng quanh
khu phố đang sống, chỉ với đoạn đường 5km đã có 4 cái tiệc rình rang trống
nhạc, dường như người ta không có gì khác để thư giãn cuối tuần bằng những
tiếng “Dzô, dzô…100%” trên cái background sầm sình trống nhạc đó. Thôi thì tạm
chấp nhận những cuộc vui như thế, vì ngoài ra chúng ta chẳng có gì để thư giãn,
đời sống lao động nghèo không cho phép đi những chuyến du lịch cuối tuần, hay
đi mua sắm,…chọn giải pháp tiệc tại nhà để thư giãn, để nhảy nhót cho quên cuộc
sống khốn khó âu cũng là điều dễ hiểu.
Người
Việt thích hát không chỉ vì thư giãn mà còn “ảo tưởng” về hào quang của cái
nghề mà xưa gọi là “xướng ca vô loài” thì đối với những bạn trẻ hiện nay cho nó
là “xướng ca thượng loài”.
Hàng
trăm các cuộc thi tìm kiếm ca sĩ từ Bắc và Nam thu hút hàng nghìn con người trẻ
tuổi tìm kiếm một cuộc đổi đời, bởi sự hào nhoáng và thượng lưu, sạch sẽ, bóng
bẫy của ngành nghề này đã làm cho những bạn trẻ ảo giác và mơ tưởng, từ đó
không bao giờ hình thành một khái niệm lao động phổ thông trong cái định hướng
nghề nghiệp. Nhiều bậc phụ huynh nuôi dạy con nhỏ cũng ảo giác theo, trông chờ
con mình như một “Phương Mỹ Chi thứ 2”…
Người
Việt thích hát vì người Việt thích vui, thích đơn giản, thích hưởng thụ những
cái gì vui vẻ, sự lười suy nghĩ và không thích giam mình trong những tư duy
khoa học, lười tìm kiếm phát minh.
Một
bộ phận người Việt thích hát vì sự lười lao động chân tay, muốn mình đứng trên
hào quang của anh đèn, được vung tay xài tiền mà không hề cực nhọc…nhưng đó là
một suy nghĩ thiển cẩn, thiếu hiểu biết.
Người
Việt thích hát vì thật ra không còn gì nữa để thư giãn.
